17:10 Chủ nhật, 22/10/2017

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 25


Hôm nayHôm nay : 143

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 4886

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1284107

Cầu hiền lương

Thăm dò ý kiến

Bạn đã biết gì tại Quảng Trị

Qua truyền hình

Qua báo

Qua Internet

Trang nhất » Giới thiệu chung » Văn hoá văn nghệ

Văn học thành văn

Thứ sáu - 11/02/2011 15:04
Đáng chú ý là dòng văn chữ quốc ngữ. Bộ phận này phát triển chủ yếu từ sau năm 1920 khi ở Quảng Trị có một lớp trí thức mới theo học các trường Pháp Việt , chịu ảnh hưởng của văn hoá phương tây hoặc tham gia các phong trào yêu nước và cách mạng. Tiêu biểu là các tác giả Phan Văn Dật, Chế Lan Viên và một số thanh niên yêu nước khác.

 

Phan Văn Dật (1909-1986), quê ở Triệu Phong, là một trong những người thuộc phong trào thơ mới. ông còn là tác giả hai tập thơ Bâng Khuâng và Những ngày vàng lụa. Ngoài ra ông còn thành công ở thể loại tiểu thuyết với cuốn tiểu thuyết Diễm hương trang.

Chế Lan Viên tên thật Phan Ngọc Hoan, sinh ở Cam Lộ, Quảng Trị. Lên 7 tuổi cả nhà chuyển vào Bình Định, bút danh Mai Lĩnh, Thạch Hãn, Thạch Mai. 17 tuổi, nổi tiếng với tác phẩm Điêu tàn. Năm 1939, Chế Lan Viên ra Hà Nội học, vào Sài Gòn làm báo, lại về Huế dạy học. Khoảng 1942, ra Vàng sao, viết tập truyện ngắn Gai lửa. Sau Cách mạng tháng 8, làm báo Quyết thắng của Việt Minh Trung Bộ... Năm 1949, Chế Lan Viên vào Ðảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều năm ông tham gia ban lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam, đại biểu Quốc hội các khóa 4, 5, 6, 7. Tác phẩm: Tập thơ Gửi các anh (1955), Ánh sáng và Phù sa (1960), Hoa ngày thường, Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Ðối thoại mới (1973), Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984).

Truyện ký: Thăm Trung Quốc (1963), Những ngày nổi giận (1967), Giờ của số thành (1967). Viết phê bình: Phê bình văn học (1962), Suy nghĩ và Bình luận (1970), Bay theo đường dân tộc đang bay (1976), Từ gác Khuê văn đến quán Trung Tân (1980), Nghĩ cạnh dòng thơ (1982).

 Sau cách mạnh tháng 8, ở Quảng trị đã hình thành một dòng văn mới gắn liền với sự nghiệp kháng chiến cứu nước. Lực lượng sáng tác chủ yếu là những người quê Quảng Trị. Có những người đã nổi tiếng trước năm 1945 như Chế Lan Viên, Hồng Chương… Số còn lại là những người đi theo kháng chiến mới cầm bút mà phần lớn là thanh niên, học sinh yêu nước như Dương Tường, Lương An, Tấn Hoài, Nguyễn Khắc Thứ. Trong thời kỳ này, dòng văn kháng chiến phát triển mạnh về thể loại thơ. Thành tựu đáng kể là sự ra đời một loạt các tập thơ Gửi các anh của Chế Lan Viên, Máu lửa đồng quê của Hồng Chương…Có thể nói dòng văn kháng chiến ở Quảng Trị là một di sản quý báu. Trước hết nó phản ánh khá trung thực bộ mặt tinh thần của nhân dân Quảng Trị trong kháng chiến chống pháp. Mặt khác, góp phần tạo nên sức sống của một nền văn chương mới của nhân dân với sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Cũng từ trong thực tế đời sống chiến trường của Quảng Trị, nhiều tài năng của thế hệ nhà văn thời chống Mĩ cứu nước hình thành. Trong đội ngũ nhà văn quê Quảng Trị có một hiện tượng đáng chú ý là chính từ trong hiện thực đời sống kháng chiến chống Mĩ, một thế hệ nhà văn trẻ đã xuất hiện và trưởng thành. Đó là các cây bút  Hoàng Phủ Ngọc Tường, Xuân Đức, Ngô Thị Mây, Ngô Thảo… Và sau 1975, tiếp tục làm nên đời sống văn chương của Quảng Trị vẫn là những sáng tác của các tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường, Xuân Đức, Lê Thị Mây, Ngô Thảo… 

Hoàng Phủ Ngọc Tường, sinh ngày 9-9-1937 tại thành phố Huế. Quê gốc: xã Triệu Long, huyện Triệu Hải, tỉnh Quảng Trị, hiện sống ở Huế. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1978). Hoàng Phủ Ngọc Tường từng dạy học, tham gia tích cực phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống đế quốc Mỹ và chính quyền ngụy đòi độc lập, thống nhất Tổ quốc từ những năm 50. Viết văn, viết báo từ khi còn rất trẻ, từng là Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, Cửa Việt. Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1980 với tác phẩm Rất nhiều ánh lửa. Nhà văn đã xuất bản: Những dấu chân qua thành phố (thơ, 1976); Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn lâu (bút ký, 1971); Rất nhiều ánh lửa (ký, 1979); Ai đã đặt tên cho dòng sông (bút ký, 1985); Bản di chúc cỏ lau (1991)...* Một số bài thơ tiêu biểu: Cành Phù Dung* Tên khai sinh: Hoàng Phủ Ngọc Tường, sinh ngày 9-9-1937 tại thành phố Huế. Quê gốc: xã Triệu Long, huyện Triệu Hải, tỉnh Quảng Trị, hiện sống ở Huế. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1978).

Lê Thị MâyTên khai sinh Phạm Thị Tuyết Bông, sinh năm 1949 tại An Mô, Triệu Long, Triệu Phong,Quảng Trị. Học xong phổ thông, Lê Thị Mây tham gia Thanh niên xung phong chống Mỹ. Sau giải phóng, học Trường viết văn Nguyễn Du. Làm báo từ năm 1970, đã từng là Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt. Thơ: Những mùa trăng mong chờ (Hội Nhà văn 1980); Dịu dàng (Hội Nhà văn ); Tuổi mười ba (Thuận Hoá, 1990); Tặng riêng một người (Văn học, 1990); Giấc mơ thiếu phụ (Quân đội nhân dân 1996); Du ca cây lựu tình (Hội Nhà văn, 1996); Khúc hát buổi tối (Thanh niên, 1999). Văn xuôi: Trăng trên cát (Thuận Hoá, 1987); Phố hoa cưới (Thanh niên 1992); Mưa ngâu ( tập bút ký, Hội Nhà văn, 1994); Huyết ngọc (truyện dài, Công an nhân dân, 1998); Bìa cây gió thẳm (tập truyện ngắn, Quân đội nhân dân, 1999).Tập thơ Tặng riêng một người được Hội Nhà văn Việt Nam trao thưởng năm 1991

Xuân Ðức là một nhà văn sống và viết ngay trên chính quê hương của Quảng Trị. Năm 1982, cuốn tiểu thuyết đầu tay 2 tập mang tên Cửa gió của anh viết về con người và mảnh đất đôi bờ Hiền Lương đã được Hội Nhà văn trao giải thưởng. Sau 22 năm, với Bến đò xưa lặng lẽ anh cũng lấy bối cảnh ấy, cuộc sống ấy ở đôi bờ sông ấy làm đề tài và lại được giải A tại cuộc thi tiểu thuyết lần thứ hai của Hội Nhà văn. Những dòng sông quê hương đầy thương đau và phù sa cực nhọc của một thời loạn ly đã chảy thấm vào tâm hồn Xuân Ðức, xui khiến anh cầm lấy bút mà cặm cụi viết...Hơn ba chục, Xuân Ðức đã cho ra mắt bạn đọc hàng trăm tác phẩm lớn nhỏ ở nhiều thể loại, đáng kể nhất là kịch và tiểu thuyết. Ở mảng văn xuôi, sau hai tập tiểu thuyết đầu tay "Cửa gió" vừa trình làng đã "giật" giải thưởng của Hội Nhà văn, Xuân Ðức viết tiếp  "Người không mang họ", Giải thưởng Bộ Nội Vụ... rồi hàng loạt tiểu thuyết nối nhau đến tay bạn đọc như "Tượng đồng đen một chân", "Hồ sơ một con người", "Những mảnh làng" và "Bến đò xưa lặng lẽ"...  Hiện nay, Xuân Đức hoạt động trong ngành Văn hóa-Thông tin. Ở mảnh đất đậm đặc chất sử thi như Quảng Trị, mỗi năm biết bao nhiêu sự kiện văn hóa, lịch sử, năng khiếu của kịch gia Xuân Ðức đã để lại những dấu ấn đẹp trong phong trào văn hóa địa phương. Đồng bào cả nước vẫn còn nhớ những chương trình lễ hội thấm đẫm cảm xúc được truyền trực tiếp từ Quảng Trị trên sóng Truyền hình Việt Nam như Huyền thoại Trường Sơn, Nhịp cầu xuyên Á, Liên hoan Ðường Chín xanh,  Lễ hội thống nhất non sông ở đôi bờ Hiền Lương,…mà anh đã cùng các đồng chí, đồng nghiệp thai nghén, dàn dựng và trở thành "thương hiệu" tâm linh của văn hóa một vùng đất.

  Ngô Thảo được ghi nhận trong lĩnh vực lý luận, nghiên cứu phê bình văn học. Xuất phát từ một người lính yêu văn học, Ngô Thảo đi theo con đường nghiên cứu phê bình. Đối tượng phê bình của Ngô Thảo là những tác phẩm đương đại viết về chiến tranh và  người lính. Trong những năm 70, đặc biệt là sau 1975, tên tuổi Ngô Thảo xuất hiện khá đều trên các báo và tạp chí. Những bài viết về các tác giả đương đại như Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Hữu Mai, Thu Bồn… khá sắc sảo.

  Năm 1989, tỉnh Quảng Trị được lặp lại sau khi tách ra từ tỉnh Bình Trị Thiên. Đây là một điều kiện thuận lợi để phát triển hơn nữa đời sống văn học của tỉnh nhà. Hội văn học nghệ thuật được thành lập trong đó quy tụ những nhà văn quê hương như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Xuân Đức, Lê Thị Mây…Tạp chí Cửa Việt rồi tiếp đó Tạp chí Văn hoá Quảng Trị ra đời, sau nhập lại  thành Tạp chí  Cửa Việt. Những nhà văn quê Quảng Trị sinh sống, công tác nơi khác bây giờ cũng có điều kiện tham gia góp phần xây dựng phong trào văn hoá, văn nghệ của quê hương như Ngô Thảo, Lương An, Trần Quốc Tiến… Đáng chú ý là sự hình thành một đội ngũ viết văn làm thơ nghiệp dư quê Quảng Trị hoặc đang sinh sống công tác trên địa bàn tỉnh. Sáng tác của họ chiếm một phần quan trọng trên các tờ báo của tỉnh, có nội dung phản ánh trực tiếp nhiều mặt đời sống nhân dân địa phương. Trong số này nổi lên những cây bút trẻ như Nguyễn Thanh Hà, Phan Bùi Bảo Thi, Hoàng Tiến Sỹ, Đào Tâm Thanh, Y Thi... và chính những gương mặt trẻ này đang từng ngày góp phần tạo nên một lực lượng chủ chốt của nền văn học nghệ thuật Quảng Trị trong tương lai

Tổng số điểm của bài viết là: 210 trong 57 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin cũ hơn

 

Khái quát

Đặc điểm dân số và nguồn nhân lực

Đặc điểm dân số và nguồn nhân lực 1. Dân số. Năm 2010 dân số trung bình của tỉnh là 601.672 người. Toàn tỉnh có 136.743 hộ gia đình, bình quân 4,4 nhân khẩu/hộ. Dân số thành thị có 170.073 người, chiếm 28,31%. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 1,05% năm 2007 và 1,12%  năm 2010; dân số cơ...

Ca khúc về Quảng Trị